Ghi chú: Kéo xuống dưới để xem toàn bộ ảnh về nội thất. Hiện tại, HomyLand giảm 10% chi phí thiết kế từ hôm nay cho đến hết tháng 3/2021. Gọi hotline để được chúng tôi tư vấn tốt hơn.

Tải Bài tiểu luận môn Cơ sở quy hoạch và quản lý lãnh thổ: Quy hoạch xây dựng vùng thủ đô Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 – Download File Word, PDF

234 lượt xem

Bài tiểu luận môn Cơ sở quy hoạch và quản lý lãnh thổ: Quy hoạch xây dựng vùng thủ đô Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050

Bài tiểu luận môn Cơ sở quy hoạch và quản lý lãnh thổ: Quy hoạch xây dựng vùng thủ đô Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050
Nội dung Text: Bài tiểu luận môn Cơ sở quy hoạch và quản lý lãnh thổ: Quy hoạch xây dựng vùng thủ đô Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050


Bài tiểu luận quy hoạch xây dựng vùng thủ đô hà nội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 gồm 4 phần: Phần 1 Đánh giá hiện trạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội; xác định động lực phát triển vùng, phần 2 Xác định và định hướng phát triển không gian vùng, phần 3 Các chương trình dự án ưu tiên, phần 4 Dự báo tác động môi trường vùng và đề xuất biện pháp để giảm thiểu ảnh hưởng xấu đến môi trường. Mời các bạn tham khảo!

*Ghi chú: Có 2 link để tải luận văn báo cáo kiến trúc xây dựng, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Bài tiểu luận môn Cơ sở quy hoạch và quản lý lãnh thổ: Quy hoạch xây dựng vùng thủ đô Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 File Word, PDF về máy

Bài tiểu luận môn Cơ sở quy hoạch và quản lý lãnh thổ: Quy hoạch xây dựng vùng thủ đô Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Bài tiểu luận môn Cơ sở quy hoạch và quản lý lãnh thổ: Quy hoạch xây dựng vùng thủ đô Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ­ ĐỊA CHẤT

    KHOA TRẮC ĐỊA

    BÀI TIỂU LUẬN

    MÔN HỌC: CƠ SỞ QUY HOẠCH VÀ QUẢN LÝ LÃNH 
    THỔ 

    ĐỀ TÀI: QUY HOẠCH XÂY DỰNG VÙNG THỦ ĐÔ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 
    2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050

                          GIẢNG VIÊN GIẢNG DẠY: TRẦN XUÂN MIỄN

                          SINH VIÊN THỰC HIỆN: ĐỖ THANH NGA

                          MSV: 1321031001. LỚP: ĐỊA CHÍNH A K58

    ­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­Hà Nội, 04/2017­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­

  2. Phần 1: Đánh giá hiện trạng về điều kiện tự 
    nhiên, kinh tế ­ xã hội; xác định động lực phát 
    triển vùng.

    Phần 2: Xác định và định hướng phát triển 
    không gian vùng.

    Phần 3: Các chương trình dự án ưu tiên.

  3. Phần 4: Dự báo tác động môi trường vùng và 
    đề xuất biện pháp để giảm thiểu ảnh hưởng 
    xấu đến môi trường.

    Tháp Rùa – Thủ đô Hà Nội

  4. Khuê Văn Các – Văn Miếu Quốc Tử Giám – Thủ đô Hà Nội

    Phần 1: Đánh giá hiện trạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế ­ xã 
    hội; xác định động lực phát triển vùng

    I. Điều kiện tự nhiên:

    1.  Vị trí địa lý : 

  5. Hình 1: Bản đồ hình chính Thành Phố Hà Nội

    Nằm chếch về  phía tây bắc của trung tâm vùng  đồng bằng châu thổ  sông 
    Hồng, Hà Nội có vị  trí từ  20°53′ đến 21°23′ vĩ độ  Bắc và 105°44′ đến 106°02′ 
    kinh độ  Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc  ở  phía Bắc, Hà 
    Nam, Hòa Bình phía Nam, B   ắc     Giang ,B
      ắc     Ninh  và H
       ư
       ng
           Yên  phía Đông, Hòa 
           Thọ  phía Tây. Hà Nội cách thành phố cảng Hải Phòng 120 km. 
    Bình cùng Phú
    Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố có diện 
    2
    tích 3.324,92 km , nằm  ở cả  hai bên bờ  sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu 
    bên hữu ngạn.

  6. 2.  Địa hình: 

    Nhìn chung, địa hình Hà Nội khá đa dạng với núi thấp, đồi và đồng bằng. 
    Trong đó phần lớn diện tích của Thành phố  là vùng đồng bằng, thấp dần từ 
    Tây Bắc xuống Đông Nam theo hướng dòng chảy của sông Hồng. Điều này 
    cũng  ảnh hưởng nhiều đến quy hoạch xây dựng và phát triển kinh tế ­ xã hội 
    của Thành phố.
    Khu vực nội Thành và phụ cận là vùng trũng thấp trên nền đất yếu, mực nước  
    sông Hồng về mùa lũ cao hơn mặt bằng Thành phố trung bình 4 ­ 5m. Hà Nội  
    có nhiều hồ, đầm thuận lợi cho phát triển Thủy sản và du lịch, nhƣng do thấp 
    trũng nên khó khăn trong việc tiêu thoát nước nhanh, gây úng ngập cục bộ 
    thường xuyên vào mùa mưa. Vùng đồi núi thấp và trung bình  ở  phía Bắc Hà 
    Nội thuận  lợi  cho xây dựng, phát triển  công  nghiệp,  lâm  nghiệp  và  tổ  chức 
    nhiều loại hình du lịch.

    3.  Khí hậu: 

    Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ  với đặc điểm của  khí hậu nhiệt 
    đới gió mùa, có sự khác biệt rõ ràng giữa mùa nóng và mùa lạnh và có thể phân  
    ra thành 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông.
    Mùa nóng bắt đầu từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 9, khí hậu nóng ẩm và mưa 
    nhiều rồi mát mẻ, khô ráo vào tháng 10. Mùa lạnh bắt đầu từ giữa tháng 11 đến 
    hết tháng 3. Từ cuối tháng 11 đến tháng 1 rét và hanh khô, từ  tháng 2 đến hết 
    tháng 3 lạnh và mưa phùn kéo dài từng đợt. Trong khoảng tháng 9 đến tháng 11,  
    Hà Nội có những ngày thu với tiết trời mát mẻ  và sẽ  đón từ  hai đến ba đợt  
    không khí lạnh yếu tràn về.
    Nhiệt độ  trung bình mùa đông: 17,2 °C (lúc thấp xuống tới 2,7 °C). Trung bình  
    mùa hạ: 29,2 °C (lúc cao nhất lên tới 43,7 °C). Nhiệt độ  trung bình cả  năm: 
    23,2 °C, lượng mưa trung bình hàng năm: 1.800mm

    4.  Tài nguyên nước mặt: 

    Về trữ lượng, thành phố Hà Nội được chia làm 2 khu vực:
    Khu vực Hà Nội cũ: Nguồn nước cung cấp và phục vụ cho sinh hoạt và một 

  7. phần  cho các dịch vụ khác của người dân Thủ đô được khai thác chủ yếu từ 
    nguồn nước dưới đất thông qua các giếng khoan.
    Trữ  lượng  nước  mưa  1,34  tỷ  m3;  nước  mặt:  Sông  Hồng  có  lưu  lượng  trung 
    bình quan sát nhiều năm là 2.650 m3/s; các sông khác có tổng lưu lượng khoảng 
    70 m3/s.
    Nước dưới đất: lưu lượng tiềm năng 5.914.000 m3/ngày.
    Khu vực Hà Nội phần mở rộng:
    Theo các số  liệu sơ bộ  đã có về  khu vực (có tham khảo tài liệu tại Liên đoàn 
    quy hoạch điều tra tài nguyên nước Miền Bắc) cho thấy tài nguyên nước dưới  
    đất phân bố không đều. Đặc biệt có một số khu vực hiếm nước (Thạch Thất,  
    Chương Mỹ,…) hoặc nước bị nhiễm mặn (Thường Tín, Phú Xuyên…).
    Trên địa bàn khu vực Hà Nội mở  rộng có các sông lớn chảy qua là: sông Đà,  
    sông Hồng, sông Đáy, sông Tích, sông Bùi và sông Nhuệ, trong đó sông Đà hiện 
    tại và trong tương lai có khả năng lớn về cấp nước cho thành phố Hà Nội.
    5.  Tài nguyên đất: 

    Hà Nội có tổng diện tích đất tự  nhiên 92.097 ha, trong đó, diện tích đất nông 
    nghiệp   chiếm   47,4%,   diện   tích   đất   lâm   nghiệp   chiếm   8,6%,   đất   ở   chiếm 
    19,26%.
    Xuất phát từ  yêu cầu sử  dụng đất của Thủ  đô Hà Nội, có 2 nhóm đất có ý  
    nghĩa lớn nhất đối với phát triển kinh tế ­ xã hội, đó là đất nông lâm nghiệp và 
    đất xây dựng. Phần lớn diện tích đất đai ở nội Thành Hà Nội được đánh giá là 
    không thuận lợi cho xây dựng do có hiện tượng tích nước ngầm, nước mặt, sụt 
    lún, nứt đất, sạt lở, trôi trượt dọc sông, cấu tạo nền đất yếu.

    6.  Tài nguyên sinh vật: 

    Hà Nội có một số kiểu hệ sinh thái đặc trưng như hệ sinh thái vùng gò đồi ở 
    Sóc Sơn và hệ  sinh thái hồ, điển hình là hồ  Tây, hệ  sinh thái nông nghiệp, hệ 
    sinh thái đô thị… Trong đó, các kiểu hệ sinh thái rừng vùng gò đồi và hồ có tính  
    đa dạng sinh học cao hơn cả.
    Khu hệ  thực vật, động vật trong các hệ  sinh thái đặc trưng của Hà Nội khá 
    phong phú và đa dạng. Cho đến nay, đã thống kê và xác định có 655 loài thực 

  8. vật bậc cao, 569 loài nấm lớn (thực vật bậc thấp), 595 loài côn trùng, 61 loài  
    động vật đất, 33 loài bò sát­ếch nhái, 103 loài chim, 40 loài thú, 476 loài thực 
    vật nổi, 125 loài động vật KXS Thủy sinh, 118 loài cá, 48 loài cá cảnh nhập 
    nội. Trong số  các loài sinh vật, nhiều loài có giá trị  kinh tế, một số  loài quý  
    hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam.
    Hà Nội hiện có 48 công viên, vườn hoa, vườn dạo  ở  7 quận nội Thành với 
    tổng diện tích là 138 ha và 377 ha thảm cỏ. Ngoài vườn hoa, công viên, Hà Nội 
    còn có hàng vạn cây bóng mát thuộc 67 loại thực vật trồng trên các đường phố,  
    trong đó có 25 loài được trồng tương đối phổ biến như bằng lăng, sữa, phượng 
    vĩ, săng đào, lim xẹt, xà cừ, sấu, muồng đen, sao đen, long nhãn, me…

    II. Điều kiện kinh tế ­ xã hội:

    1.  Dân    số 

    Hà Nội là Thành phố đông dân thứ hai cả nước (sau TP Hồ Chí Minh) với dân số 
    ước tính đến 31/12/2015 là 7.558.965 người chiếm hơn 8% dân số cả nước, toàn 
    Thành phố đã đạt mức sinh thay thế (số con bình quân/ một phụ nữ trong độ tuổi 
    sinh đẻ ­ TFR: 2,03 con).
    Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 1.979 người/km². Mật độ dân số cao 
    nhất là  ở  quận  Đống  Đa  lên tới 35.341 người/km², trong khi  đó,  ở  những 
    huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, Ứng Hòa mật độ dưới 1.000 
    người/km².
    Tuy nhiên, cơ  cấu dân số  chuyển đổi theo hướng tỷ  lệ  người cao tuổi tiếp tục 
    gia tăng, dân số Hà Nội đang có xu hướng già hóa. Cơ cấu về giới tính, đặc biệt 
    là tỷ số giới tính khi sinh (số trẻ  là nam/100 trẻ nữ  ) đang ở  mức cao hơn mức 
    trung bình của cả  nước. Kết  quả năm 2015, tỷ  số  giới tính khi sinh ở  Hà Nội là 
    114 trẻ trai/100 trẻ gái (toàn quốc 112,8/100)
    2.  Kinh    tế 

    a) Công nghiệp
    Ngành công nghiệp đã lấy lại đà tăng trưởng, ước 6 tháng đầu năm 2015 giá trị 
    gia tăng tăng 6,7%, cao hơn cùng kỳ  năm 2014 (6,4%). Chỉ  số  phát triển sản  
    xuất công nghiệp tháng Sáu năm 2015 tăng 0,8% so với tháng trước và tăng  
    7,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung trong 6 tháng đầu năm 2015, chỉ số 

  9. phát triển sản xuất  công  nghiệp tăng 6,8% so với cùng kỳ. Thị  trường bất  
    động sản đang ấm dần. Ngành xây dựng có mức tăng trưởng cao nhất trong 4 
    năm  trở lại đây,  ước  6 tháng đầu năm,  giá trị  gia tăng ngành này tăng 10,5% 
    (cùng kỳ 2014 tăng 8,9%), trong đó, quý II tăng cao vượt trội tới 12,2%.
    b) Thương mại dịch vụ
    Giá trị gia tăng ngành dịch vụ 6 tháng đầu năm ước tăng 8,3% ­ cao hơn mức  
    cùng kỳ  năm 2014 (8,2%). Thị  trường bán buôn và bán lẻ  đã sôi động hơn. 
    Tổng mức lưu chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng 10,5%. Nếu loại trừ 
    yếu tố tăng giá thì năm 2015 cao hơn 2014 khá nhiều (9,6%) so với cùng kỳ.
    Du lịch tiếp tục tăng trưởng so cùng kỳ. Khách Quốc tế vào Hà Nội ước tháng 
    Sáu khoảng 162 nghìn lượt khách, giảm 6,1% so tháng trước và tăng 67,9% so  
    cùng kỳ. Cộng dồn 6 tháng, lượng khách quốc tế lưu trú tại Hà Nội ước đạt 
    1129 nghìn lượt người, tăng 8,8% so cùng kỳ  và lượng khách nội địa đến Hà 
    Nội ước tăng 5,8% so cùng kỳ năm  trước.
    c) Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

    Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển. Giá trị  gia tăng 6 tháng đầu năm 
    ƣớc tăng 2,8% cao hơn cùng kỳ  năm 2014 (2,5%). Diện tích vụ  Đông Xuân  
    2015 tăng 2,7% so với cùng kỳ. Hiện nay các huyện đang thu hoạch lúa xuân,  
    năng suất  ước đạt 60 tạ/ha (giảm 1,8%). Tình hình đàn gia súc, gia cầm  ổn  
    định, không xảy ra các dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Hầu hết đàn gia 
    súc, gia cầm và diện tích nuôi thủy sản đều tăng. Hệ  thống công trình thủy  
    lợi, đê điều được tăng cường, sẵn sàng ứng phó khi có mưa lũ.

    3.  Về văn hóa – xã    hội 

    Hoàn thành công tác kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể. Xây dựng chính sách  
    huy động nguồn lực để bảo tồn di sản; cơ chế về đầu tư, quản lý và khai thác 
    các thiết chế  văn hóa, thể  thao. Công tác tổ  chức hoạt động lễ  hội có nhiều  
    chuyển biến tốt hơn.
    Tiếp tục thực hiện đổi mới giáo dục và đào tạo và chuẩn đầu ra của từng cấp 
    học, trường  học.
    Công   tác   xây   dựng   kế   hoạch   khoa   học   công   nghệ   được   thực   hiện   khẩn 
    trƣơng, nghiêm túc, chặt chẽ, khoa học và tiến độ nhanh hơn năm trước.

  10. An sinh xã hội được đảm bảo. Các đối tƣợng chính sách, gia đình có công, 
    người nghèo, cán bộ  hưu trí, đồng bào khu vực vùng sâu, vùng xa và dân tộc 
    được đặc biệt quan tâm.

    III. Các động lực phát triển vùng
    Vào năm 2030, Hà Nội sẽ  là một thủ  đô văn minh, với tổ  chức xã hội  
    phù hợp với trình độ  tiên tiến về  kinh tế  tri thức và công nghệ  thông tin, có 
    những hệ thống công trình văn hóa tiêu biểu của cả nước
    Hà Nội đề ra mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 2011­2015 
    là 10%/năm, thời kỳ 2016­ 2020 đạt 9%/năm và khoảng 8%/năm thời kỳ 2021­
    2030. Đến năm 2015, GDP bình quân đầu người của Hà Nội đạt khoảng 3.300 
    USD, đến năm 2020 đạt 5.300 USD và năm 2030 đạt 11.000 USD (tính theo giá 
    thực tế).
    Tốc độ  tăng giá trị  xuất khẩu trên địa bàn bình quân là 10­12%/năm thời kỳ 
    2011­ 2015 và 14­15% thời kỳ 2016­2020. Quy mô dân số Hà Nội đến năm 2015  
    đạt 7,2­7,3 triệu người, năm 2020 đạt khoảng 7,9­8 triệu ng ƣời và năm 2030 
    đạt khoảng 9,4­9,5 triệu người.
    Tỷ  lệ  lao động qua đào tạo khoảng 55­60% vào năm 2015 và 70­75% vào 
    năm 2020, đưa Thủ  đô trở  thành trung tâm đào tạo chất lượng cao của cả 
    nước và có tầm cỡ khu vực.
    Hà Nội đặt mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, giàu bản sắc dân tộc, 
    người Hà Nội thanh lịch, văn minh. Tỷ  lệ  đô thị  hóa của Hà Nội năm 2015  
    khoảng 46­47%, năm 2020 đạt 54­55%…

    Phần 2: Xác định và định hướng phát triển không gian vùng – 
    phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật.

    I. Định hướng phát triển không gian vùng:

    1.  Các định hướng chính phát triển vùng Thủ đô: 

  11. Vùng Thủ đô Hà Nội phát triển theo hướng vùng đô thị đa cực tập 
    trung: liên kết không gian giữa thành phố Hà Nội (vùng đô thị hạt nhân 
    trung tâm gắn với vùng phụ cận) và các tỉnh xung quanh (vùng phát triển 
    đối trọng), trong đó các đô thị tỉnh lỵ là các hạt nhân của vùng phát triển 
    đối trọng. 
    Đô thị hạt nhân: Thủ đô Hà Nội đóng vai trò chủ đạo của vùng, chủ yếu 
    tập trung các trung tâm chính trị, hành chính, văn hoá, thương mại, tài 
    chính, dịch vụ, công nghệ cao, các cơ quan nghiên cứu và là một trung tâm 
    du lịch của toàn vùng và quốc gia.
    Vùng phụ cận Hà Nội được xác định trong phạm vi xung quanh Hà 
    Nội hiện hữu.
    Vùng đô thị hoá mạnh bao gồm không gian các đô thị công nghiệp ­ 
    dịch vụ phát triển nối kết về phía Đông; không gian các đô thị du lịch ­ 
    đào tạo ­ công nghệ cao phát triển nối kết về phía Tây của vùng, hình 
    thành các trục không gian kinh tế ­ đô thị đối trọng Đông ­ Tây. 
    Vùng động lực phát triển kinh tế, công nghiệp, dịch vụ tập trung 
    trên trục kinh tế giữa đô thị hạt nhân thành phố Hà Nội với thành 
    phố Hải Phòng và thành phố Hạ Long, trong đó đô thị Hải Dương đóng 
    vai trò đô thị trung tâm cấp vùng, phát triển công nghiệp nhẹ, kỹ thuật cao 
    và hỗ trợ phát triển các loại công nghiệp chế biến của vùng đồng bằng 
    phía Nam ­ Đông Nam đồng bằng sông Hồng. 
    Các đô thị trung tâm tỉnh phát triển quy mô và chất lượng đô thị với 
    đầu tư xây dựng hạ tầng xã hội ­ kỹ thuật gắn các vùng công nghiệp 
    ­ dịch vụ xung quanh đô thị để tăng sức hút phát triển đô thị. Phát triển 
    giao thông liên đô thị gắn kết với đô thị hạt nhân trung tâm và tạo khung 
    phát triển chính cho vùng đối trọng. 
    Các đô thị trung bình và nhỏ phát triển gắn với các vùng nông nghiệp 
    và là các trung tâm công nghiệp ­ tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông 
    thôn, tạo sức hút lao động tại chỗ.
    Bảo vệ những khu vực tự nhiên (không xây dựng và phát triển đô 
    thị) bao gồm: các vùng thấp trũng lưu vực ven các dòng sông, các vùng 
    xả lũ, những tuyến đê và các vùng giới hạn xây dựng, các vùng cảnh 
  12. quan, di tích văn hoá lịch sử quốc gia trong vùng Hà Nội và các tiểu vùng 
    nông nghiệp chính của các tỉnh. 
    Nghiên cứu mở rộng ranh giới Thủ đô Hà Nội để tạo quỹ đất phát 
    triển các công trình trọng điểm quốc gia, bao gồm: Trung tâm hành 
    chính quốc gia phát triển các đô thị mới, các trung tâm dịch vụ du lịch, 
    nghiên cứu đào tạo và các hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, nhằm 
    giải toả các khu công nghiệp, các công trình gây ô nhiễm ra khỏi Hà Nội.

    2.  Tổ chức phát triển không gian vùng Thủ đô Hà Nội: 
    Không gian vùng Thủ đô được phân thành 2 phân vùng chính:
    Vùng đô thị hạt nhân và phụ cận.
    Vùng phát triển đối trọng.
    Vùng đô thị hạt nhân và phụ cận: vùng đô thị hạt nhân là Thủ đô Hà 
    Nội mở rộng lựa chọn các loại hình phát triển kinh tế, kiểm soát gia tăng 
    dân số và đất đai, hướng tập trung hình thành các trung tâm thương mại 
    tài chính lớn của quốc gia, các khu nghiên cứu ­ đào tạo công nghệ cao, 
    trung tâm văn hoá lớn. 
    Vùng phụ cận trong phạm vi 25 ­ 30 km có chức năng hỗ trợ phát triển 
    và mở rộng đô thị trung tâm, là các vùng giao thoa, lan toả sự phát triển 
    giữa Thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận. Vai trò của các khu vực này là 
    tạo các vành đai xanh cung cấp các sản phẩm nông nghiệp, thực phẩm 
    cho Thủ đô, đồng thời phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp, v.v… 
    Vùng phát triển đối trọng trong phạm vi 30 ­ 60 km, hình thành theo 3 
    phân vùng lớn với các trung tâm tỉnh lỵ là các hạt nhân phát triển. 
    Vùng đối trọng phía Tây của Thủ đô Hà Nội: là Hoà Bình có địa hình 
    bán sơn địa, cảnh quan thiên nhiên phong phú, đa dạng có nhiều tiềm 
    năng để phát triển các khu du lịch, nghỉ dưỡng, làng văn hoá v.v… Đồng 
    thời có thể bố trí các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật. 
    Vùng đối trọng phía Đông và Đông Nam: bao gồm các tỉnh đồng bằng 
    chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng sông Hồng với vùng duyên hải Bắc Bộ 
    như: Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương và Hà Nam. Vùng này nằm trên 

  13. các trục kinh tế nối Thủ đô Hà Nội với các cảng biển Bắc Bộ, có tiềm 
    năng phát triển nông nghiệp và công nghiệp.
    Vùng đối trọng phía Bắc ­ Đông Bắc: gồm các khu vực phía Bắc sông 
    Hồng và dọc theo hành lang trục đường 18, chủ yếu là vùng bán sơn địa 
    thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây có tiềm năng về quỹ đất gò đồi để hình 
    thành các khu vực công nghiệp ­ dịch vụ đô thị. 

    3.  Phát triển hệ thống dân cư, đô thị và các dịch vụ hạ tầng xã hội: 
    Đảm bảo phát triển theo hướng bền vững với nguyên tắc tầng bậc, tập 
    trung tại các trung tâm đô thị và xung quanh, tiết kiệm đất đai và đầu tư 
    các dịch vụ hạ tầng, nâng cao chất lượng và sức thu hút về dịch vụ hạ 
    tầng, nhà ở và việc làm cho các đô thị trong vùng. 
    Hệ thống đô thị được phân như sau: 
    Thủ đô Hà Nội: hướng phát triển không gian theo ba khu vực:
     Khu vực đô thị phía Nam sông Hồng, theo hướng chỉnh trang và mở 
    rộng đô thị về hướng Tây ­ Tây Nam;
     Khu vực đô thị phía Bắc sông Hồng hình thành mới trung tâm 
    thương mại ­ đô thị gắn với đầu mối giao thông quốc gia tổng hợp 
    và tham gia vào hành lang kinh tế Côn Minh ­ Hạ Long;
     Khu vực đô thị phía Đông sông Hồng ­ Nam sông Đuống đáp ứng 
    dịch vụ nhà ở gắn khu vực công nghiệp ­ tiểu thủ công nghiệp và 
    dịch vụ thương mại. 
    Hạn chế phát triển công nghiệp, thu hút đầu tư các khu công nghiệp kỹ 
    thuật cao gắn với sự hình thành các đô thị dịch vụ, tạo các trung tâm kinh 
    tế công nghiệp trên các trục chính của vùng. 
    Các thành phố cấp vùng, phân vùng: gồm các thành phố Hải Dương, 
    Vĩnh Yên, Hoà Bình. Phát triển đô thị trung tâm tỉnh và các đô thị trên 
    địa bàn theo hướng đầu tư tập trung, nâng cao chất lượng kiến trúc và 
    điều kiện dịch vụ đô thị, hạ tầng… để có cơ hội thu hút đầu tư phát 
    triển về dân cư, lao động và các công trình trung tâm lớn trong vùng.
    Các đô thị chuyên ngành chủ yếu là các đô thị mới gắn với các trung 
    tâm đào tạo, công nghệ cao (Hoà Lạc), công nghiệp (như Phố Nối, 

  14. Đồng Văn…), du lịch (như Sơn Tây, Sao Đỏ ­ Chí Linh, Tam Đảo, 
    Lương Sơn, Quan Sơn…), dịch vụ thương mại, phát triển nhà ở (như 
    An Khánh, Mê Linh, Văn Giang, Từ Sơn…).
    Các đô thị, thị trấn cấp huyện là trung tâm công nghiệp vừa và nhỏ, 
    dịch vụ dân cư nông nghiệp ­ nông thôn. Các vùng dân cư nông thôn 
    trong xu hướng đô thị hoá tăng dần hoạt động phi nông nghiệp, phát 
    triển nghề thủ công, dịch vụ và thương mại, công nghiệp vừa và nhỏ 
    nông thôn, nâng cao chất lượng dịch vụ công cộng và cải thiện hệ 
    thống hạ tầng nông thôn. Các đô thị trung tâm huyện là các đô thị dịch 
    vụ cho vùng nông nghiệp ­ nông thôn. Các khu cụm công nghiệp nhỏ 
    nên gần với trung tâm huyện hoặc trung tâm cụm xã.

    4.  Tổ chức không gian công nghiệp vùng Thủ đô Hà Nội:  
    Hình thành các khu vực công nghiệp chính trong vùng theo các xu hướng bố trí 
    không gian phát triển toàn vùng, bao gồm:
    Vùng đô thị hạt nhân trung tâm:
    Phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng chất xám cao, công 
    nghệ cao, mới, không ô nhiễm, ít chiếm đất, sử dụng lao động có lựa 
    chọn, gắn với khu vực nghiên cứu.
    Khu công nghệ cao Hà Nội xây dựng tại Khu công nghiệp Nam Thăng 
    Long.
    Các khu công nghiệp khác cần rà soát lại loại hình và phát triển trong 
    khu vực phụ cận trung tâm.
    Các vùng đối trọng:
    Vùng công nghiệp đường 18: phát triển công nghiệp năng lượng, vật 
    liệu xây dựng, khai thác chế biến khoáng sản, cơ khí hoá chất… trong 
    đó có sự phát triển gắn với địa bàn tỉnh Quảng Ninh và Bắc Giang. 
    Phát triển trục không gian công nghiệp ­ đô thị theo hành lang kinh tế 
    Côn Minh ­ Hạ Long nối ra khu vực cảng biển. Công nghiệp nặng của 
    vùng chuyển dịch lên khu vực phía Bắc, Đông Bắc, sử dụng quỹ đất 
    gò đồi phía Bắc đường 18 và một số khu vực ngoài vùng tại Thái 
    Nguyên, Quảng Ninh (Đông Triều ­ Mạo Khê) và Bắc Giang. 

  15. Vùng công nghiệp Bắc sông Hồng: gồm khu vực Sóc Sơn ­ Nội Bài, 
    Mê Linh ­ Phúc Yên ­ Vĩnh Yên với hướng phát triển các công nghiệp 
    lắp ráp ô tô, xe máy, điện tử, hạn chế các công nghiệp chế biến, ô 
    nhiễm cao.
    Vùng Phả Lại: công nghiệp nhiệt điện.
    Vùng công nghiệp gắn với 2 đô thị lớn phụ cận là thành phố Việt Trì 
    và thành phố Thái Nguyên, trong đó Thái Nguyên và phụ cận phía Nam 
    (sông Công, Phổ Yên) phát triển công nghiệp thép, công nghiệp vật 
    liệu xây dựng.
    Phát triển vùng công nghiệp gắn tuyến trục đô thị hoá mạnh của vùng 
    về phía Đông hướng cảng Hải Phòng với các ngành công nghiệp chế 
    tác, chế biến lương thực thực phẩm, vật liệu cao cấp, công nghiệp 
    nhẹ, dịch vụ sản xuất nông nghiệp. 
     Xây dựng khu vực công nghệ cao phía Tây (kết hợp Khu công nghiệp 
    Phú Cát) tại khu vực Hoà Lạc. 
    Công nghiệp thủy điện tại Hoà Bình.
    Phát triển các vùng làng nghề truyền thống trên địa bàn Hà Tây.
    Phát triển các cụm công nghiệp quy mô nhỏ gắn đô thị như Xuân Mai, 
    Lương Sơn, Hoà Bình trên quốc lộ 6. 
    Phía Nam hình thành khu vực công nghiệp đa ngành gắn với 2 đô thị 
    phía Nam của vùng là Hưng Yên và Phủ Lý, trong đó gồm 2 cụm là:
     Cụm công nghiệp khai thác đá, xi măng, vật liệu xây dựng Bút Sơn 
    ­ Kim Bảng ­ Kiện Khê.
     Cụm công nghiệp nhẹ, sản xuất hàng tiêu dùng tại trục Đồng Văn ­ 
    Hoà Mạc ­ Châu Sơn.
    Vùng trọng điểm công nghiệp:
    Vùng trọng điểm công nghiệp của vùng Thủ đô Hà Nội chủ yếu tập 
    trung vào khu vực phía Đông (từ vùng đô thị trung tâm nối ra Hải 
    Phòng và Quảng Ninh), tạo một hành lang kinh tế chủ đạo của toàn 
    vùng với sự nối kết các tuyến đường cao tốc Đông ­ Tây, hành lang đô 
    thị hoá mạnh với các đô thị trung tâm phát triển lớn và các cụm đô thị ­ 
  16. công nghiệp ­ dịch vụ xen kẽ trên toàn dải trục, hình thành một vùng 
    phát triển đối trọng với đô thị trung tâm.
    Đối với Thủ đô Hà Nội: di chuyển kết hợp cải tạo, nâng cấp cơ sở 
    các ngành sản xuất công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm ra xa nội 
    thành (khi chuyển ra ngoại thành có biện pháp đồng bộ bảo vệ môi 
    trường) gắn với việc hình thành các khu đô thị vệ tinh, khu đô thị mới 
    như các khu Bắc Thăng Long, Nam Thăng Long, Bồ Đề (Gia Lâm), 
    Yên Viên.
    Đối với phát triển các khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao: 
    đẩy nhanh việc xây dựng theo quy hoạch và đưa vào hoạt động khu 
    công nghệ cao Hoà Lạc. Rà soát lại quy hoạch xây dựng các khu công 
    nghiệp của toàn vùng nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững, cân đối. 

    5.  Tổ chức không gian du lịch vùng: 
    Vùng ưu tiên đầu tư phát triển du lịch: nằm trong hạt nhân của các 
    trung tâm du lịch; các điểm du lịch lớn; nơi tập trung nhiều tài nguyên du 
    lịch có khả năng khai thác đồng thời.
    Không gian trung tâm du lịch: thành phố Hà Nội là trung tâm du lịch của 
    vùng, là nơi hội tụ các di tích lịch sử văn hoá, kiến trúc và các lễ hội 
    truyền thống với nhiều di tích được xếp hạng, trong đó có 2 di tích đặc 
    biệt, được coi là tiềm năng du lịch nhân văn lớn nhất trong cả nước.
    Không gian các trung tâm du lịch vệ tinh: phát triển chủ yếu gắn với 
    các đô thị trong vùng như thành phố Việt Trì, thành phố Vĩnh Yên, thành 
    phố Sơn Tây, thành phố Hoà Bình, thành phố Nam Định, thành phố Bắc 
    Ninh, thành phố Hải Dương với các ưu tiên đầu tư các cơ sở lưu trú, các 
    công trình vận chuyển giao thông, dịch vụ.
    Các vùng du lịch lớn: 
    Vùng du lịch sinh thái ­ giải trí ­ thể thao ­ nghỉ dưỡng Ba Vì ­ Hà Tây, 
    bao gồm các cụm du lịch xung quanh các vùng núi và hồ của khu vực Ba 
    Vì ­ Suối Hai. Các dự án đã khởi động gồm sân golf Đồng Mô, Làng du 
    lịch ­ văn hoá các dân tộc Việt Nam và một số điểm dịch vụ du lịch quy 
    mô nhỏ. 

  17. Vùng du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng Tam Đảo ­ Tây Thiên: các trung tâm 
    du lịch vườn quốc gia Tam Đảo, hồ Đại Lải hiện đã được đầu tư phát 
    triển theo hướng gắn với đô thị, cần được kiểm soát theo quy chế quản 
    lý chặt chẽ. 
    Vùng du lịch văn hoá, lễ hội kết hợp thắng cảnh hồ ­ vùng cảnh quan núi 
    đá Hương Sơn ­ Quan Sơn ­ Tam Chúc: vùng du lịch Hòa Bình, du lịch 
    tham quan nghiên cứu văn hóa Mường, hồ thủy điện, vùng du lịch Chí 
    Linh ­ Sao Đỏ (Hải Dương), vùng du lịch tham quan di tích, thắng cảnh 
    đồng thời là cụm du lịch tạo cầu nối kết hợp vùng du lịch Quảng Ninh ­ 
    Hải Phòng. 

    6.  Tổ chức định hướng phát triển hệ thống dịch vụ xã hội: 
    Tổ chức hệ thống dịch vụ thương mại ­ y tế vùng:
    Để hỗ trợ cho các đô thị có vai trò trung tâm vùng và các đô thị chuyên 
    ngành lớn, có khoảng cách hợp lý với Hà Nội đồng thời có vai trò ảnh 
    hưởng đến sự điều phối dịch cư trong vùng như các đô thị: Hải 
    Dương, Vĩnh Yên và Hoà Bình đầu tư xây dựng các trung tâm dịch vụ 
    thương mại ­ công cộng, văn hoá giải trí và y tế để nâng cao chất 
    lượng đô thị nhằm tạo sức hấp dẫn, thu hút các nguồn lực vào đô thị. 
    Xây dựng trung tâm y tế chất lượng cao quy mô vùng tại đô thị Hòa 
    Lạc (Hà Tây), thành phố Hải Dương, Vĩnh Yên và thị xã Phủ Lý nhằm 
    giảm sự quá tải các bệnh viện đầu ngành tại nội thành Hà Nội.
    Xây dựng các trung tâm thương mại đầu mối, với vai trò phát luồng, 
    điều hòa phân phối hàng hóa trong vùng và các khu vực lân cận tại Phủ 
    Lý (Hà Nam), Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Yên, Hòa Lạc. 
    Tổ chức hệ thống đào tạo vùng:
    Tổ chức 3 trung tâm đào tạo của vùng là Hà Nội ­ Hải Phòng ­ Nam 
    Định, trong đó Hà Nội là trung tâm và Hải Phòng ­ Nam Định là hai địa 
    bàn hỗ trợ nhằm đào tạo nguồn nhân lực cho quốc gia. 
    Các trường đào tạo công nghệ cao phân bố gần với Hà Nội, bao gồm 
    các ngành như vật liệu mới, công nghệ thông tin, tự động hóa, sinh 
    học, đào tạo dịch vụ trình độ quốc tế. 

  18. Hà Nội là trung tâm đào tạo lớn nhất. Hình thành các trung tâm đào tạo 
    mới gắn với các đô thị trong vùng theo các dự án lớn như khu Đại học 
    Quốc gia tại Hoà Lạc, các trường cao đẳng kỹ thuật hình thành từng 
    cụm gắn với các khu vực công nghiệp tập trung lớn Bắc Thăng Long ­ 
    Nội Bài ­ Sóc Sơn của Hà Nội, vùng công nghiệp đường 18 và 18 mới 
    (thuộc Hải Dương ­ Quảng Ninh), khu vực công nghiệp Phố Nối ­ Yên 
    Mỹ (Hưng Yên).
    Tại các tỉnh theo hướng phân bố 1 ­ 2 trường đại học dân lập đào tạo 
    đa ngành và các trường chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật của tỉnh 
    theo nhu cầu riêng.
    Quy mô các trường đại học công lập 10 ­ 12.000 sinh viên, trường 
    trọng điểm 18 ­ 20.000 sinh viên, trường dân lập 6 ­ 10.000 sinh viên, 
    cao đẳng 3 ­ 5.000 sinh viên. 
    Việc điều phối lại sự phân bố các trường đào tạo trong vùng tạo thêm 
    động lực cho các đô thị phát triển và tạo điều kiện cho các trường đầu 
    tư phát triển cơ sở đào tạo, khu nhà ở cho sinh viên theo các mô hình 
    môi trường đào tạo tiên tiến gắn kết với các dịch vụ đô thị hiện đại. 

    II. Định hướng phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật:
    1.  Giao thông: 
    Tận dụng năng lực cơ sở hạ tầng giao thông hiện có, coi trọng công tác bảo 
    trì, tập trung đầu tư nâng cấp các công trình hiện có. 
    Phát huy tối đa về lợi thế địa lý của vùng, phát triển đồng bộ hệ thống các 
    loại hình giao thông vận tải đối ngoại như: đường bộ, đường sắt, đường 
    hàng không và đường thuỷ. Đầu tư phát triển các hành lang vận tải: Bắc ­ 
    Nam; Đông ­ Tây và các tuyến đường vành đai kết nối liên hoàn với cảng 
    hàng không và hệ thống cảng biển.
    Phát triển hệ thống giao thông vận tải một cách thống nhất, cân đối, đồng 
    bộ, đảm bảo sự liên hoàn giữa các phương thức vận tải, giữa mạng lưới 
    giao thông vận tải của vùng với mạng lưới giao thông vận tải quốc gia và 
    quốc tế. 
    a. Đường bộ:

  19. Xây dựng các tuyến đường vành đai để giải toả lưu lượng các phương 
    tiện giao thông quá cảnh qua Hà Nội.
    Xây dựng mới tuyến đường vành đai (vành đai IV) cao tốc vùng Thủ đô 
    Hà Nội, bán kính phân bố trung bình từ 20 ­ 40 km, phục vụ giải toả lưu 
    lượng các phương tiện giao thông, đặc biệt xe tải và ô tô quá cảnh trên 
    các tuyến đường cao tốc và quốc lộ hướng tâm vào thành phố hạt nhân. 
    Cải tạo và xây dựng mới các tuyến đường quốc gia kết nối liên thông các 
    đô thị đối trọng xung quanh Hà Nội, bán kính phân bố trung bình 40 ­ 60 
    km (vành đai V), phục vụ mối giao lưu trực tiếp giữa các đô thị, đồng thời 
    góp phần giải toả lưu lượng ô tô quá cảnh trên các tuyến đường cao tốc 
    và quốc lộ hướng tâm.
    Xây dựng mới các tuyến đường mới dọc các hành lang kinh tế quan trọng 
    giữa vành đai IV và vành đai V và các tuyến hướng tâm từ cảng hàng 
    không quốc tế và các đô thị vệ tinh, đô thị đối trọng kết nối trực tiếp với 
    Thủ đô Hà Nội nhằm đáp ứng nhu cầu giao thông con lắc giữa thành phố 
    hạt nhân với các thành phố trong vùng.
    Trục đường cao tốc phía Bắc song song với quốc lộ 2 và quốc lộ 18 nối 
    vùng Vân Nam ­ Trung Quốc và vùng Tây Bắc với cảng nước sâu Cái Lân 
    ­ Quảng Ninh.
    Trục đường cao tốc phía Nam song song quốc lộ 6 và quốc lộ 5, liên hệ 
    vùng Tây Bắc với cụm cảng Hải Phòng ­ Cái Lân.
    Trục đường cao tốc Bắc Nam phía Tây là tuyến đường Hồ Chí Minh, 
    quốc lộ 21 nối với quốc lộ 2.
    Trục đường cao tốc Bắc Nam phía Đông song song với quốc lộ 1A, đây là 
    tuyến đường ô tô quan trọng, huyết mạch của quốc gia và quốc tế.
    Tập trung cải tạo nâng cấp mở rộng các tuyến quốc lộ hướng tâm đạt 
    tiêu chuẩn đường cấp I đồng bằng quy mô 4 ­ 6 làn xe. 
    Cải tạo nâng cấp kết hợp xây dựng mới hệ thống đường tỉnh kết nối liên 
    thông với mạng lưới đường quốc gia.
    Tổ chức các tuyến đường nội vùng nối liền hệ thống các điểm dân cư 
    tập trung với các trục đường chính tạo thành mạng lưới đường bộ liên 
    hoàn đáp ứng nhu cầu đi lại, giao lưu nội ngoại vùng.
  20. b. Đường sắt:
    Đường sắt quốc gia:
    Cải tạo nâng cấp 5 tuyến đường sắt quốc gia tập trung vào đầu mối 
    Hà Nội thành các tuyến đường sắt đôi điện khí hoá.
    Cải tạo xây dựng hoàn chỉnh tuyến vành đai đường sắt tiếp cận khu 
    vực Hà Nội, nhằm giải toả lưu lượng tàu quá cảnh chạy qua khu vực 
    nội thành.
    Xây dựng mới các tuyến đường sắt quốc gia đáp ứng nhu cầu vận tải 
    của các hướng: 
    Tuyến đường sắt cao tốc Bắc ­ Nam.
    Tuyến đường sắt Lào Cai ­ Hà Nội ­ Quảng Ninh.
    Tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội ­ Hải Phòng.
    Đường sắt nội vùng: cải tạo kết hợp xây dựng các tuyến đường sắt 
    nội vùng: từ Hà Nội đi Thái Nguyên, Việt Trì, Bắc Giang, Hải Dương, 
    Ninh Bình, Hòa Bình và Sơn Tây. 
    Nối kết hệ thống đường sắt nội vùng với hệ thống tuyến đường sắt 
    đô thị. Nghiên cứu xây dựng mới một số tuyến đường sắt nhẹ kết nối 
    các đô thị với các vùng du lịch nghỉ ngơi giải trí lớn trong vùng như: 
    Ba Vì, Sơn Tây, Hoà Bình, Hưng Yên, Chùa Hương (Hà Tây).
    Hệ thống đường sắt đô thị cần được nghiên cứu, đầu tư xây dựng 
    thành mạng lưới đường sắt giao thông công cộng hoàn chỉnh đáp ứng 
    nhu cầu đi lại.
    Hệ thống các công trình phục vụ đường sắt:
    Xây dựng các đầu mối kết nối liên thông giữa các tuyến đường sắt, 
    đặc biệt giữa các tuyến đường sắt hướng tâm với tuyến đường sắt 
    vành đai.
    Xây dựng cầu, các công trình và trang thiết bị an toàn chạy tàu.
    Xây dựng hệ thống các nhà ga đầu mối hàng hoá (Ngọc Hồi, Cổ Bi, 
    Yên Viên, Bắc Ninh, Bắc Hồng…) nhằm đảm bảo mối liên kết thống 
    nhất giữa các tuyến của hệ thống đường sắt quốc gia qua khu vực 
    đầu mối Hà Nội.

Download tài liệu Bài tiểu luận môn Cơ sở quy hoạch và quản lý lãnh thổ: Quy hoạch xây dựng vùng thủ đô Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 File Word, PDF về máy

Mời bạn đánh giá nội dung bài viết
Thông tin liên hệ:
  • Công ty Cổ phần Kiến trúc Xây dựng HOMYLAND
  • Liên hệ: KTS Minh Đức
  • Phone: 0962.682.434
  • Email: info.homyland@gmail.com
  • Website: homyland.com.vn
Với hơn 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực thiết kế, thi công nhà phố, biệt thư. HOMYLAND tự tin mang đến cho bạn những công trình hoàn hảo nhất. Hãy liên hệ ngay cho chúng tôi khi bạn cần hỗ trợ.

Bài viết cùng chủ đề: